_______________Được tài trợ___

 

LIÊN HỆ

Hotline: 0934-671-388
Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

¶ Bạn đang sử dụng VietDVM v3.3
© Bản quyền thuộc về VietDVM™
Ω Vận hành bởi X7plus® .,JSC
® Website VietDVM.com đã đăng ký Luật bản quyền quốc tế.

DMCA.com Protection Status

 

- Đang online: 478 người, 3 thành viên

  • duongphuongty
  • hungphieu
  • ngocphuong91310fc

 

Tăng sức cạnh tranh gà thả vườn

Ở VN, người dùng thịt gà có “gu” khác nước ngoài. Thịt chín phải có mùi thơm đặc trưng, vị ngọt, mịn và hơi dai. Vì vậy cần phát triển mạnh các giống gà thả vườn mới đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng.

Tầm quan trọng  

Để đạt được yêu cầu trên, gà thả vườn phải nuôi kéo dài hơn, chuồng trại đơn giản không cầu kỳ, cho ăn các loại thức ăn sẵn có như bắp, lúa, khoai mỳ, cám gạo, rau củ quả, cỏ…

b2ap3_thumbnail_nuoi-ga-tha-vuon.jpg

Nuôi gà đồi ở Thái Nguyên. Ảnh: ĐVT

Tuy thời gian nuôi kéo dài hơn nhưng nhờ ưu thế thả vườn, gà đi lại nhiều giúp thịt chắc và ngon hơn gà công nghiệp, khối lượng đạt 1,8 – 2 kg lúc 75 -90 ngày tuổi. Nuôi thả vườn, giá thành thức ăn giảm hơn, giá bán cao hơn gà công nghiệp.

Theo Hội Chăn nuôi VN, trong năm 2014, sản phẩm thịt gà thả vườn ở VN đạt 560.000 – 620.000 tấn trong khi gà công nghiệp chỉ có 393.000 – 402.000 tấn. Rõ ràng gà thả vườn vẫn chiếm ưu thế trong tiêu dùng ở nước ta.

Đây chính là ưu thế cạnh tranh quan trọng trong sản phẩm thịt gia cầm hiện nay. Ngoài thịt thì trứng gia cầm muối cũng là một sản phẩm có ưu thế cạnh tranh.

10 mặt hàng đứng đầu trong thương mại thế giới năm 2012 trong đó có thịt gà và trứng gà (theo FAO, tại Hội nghị quốc tế ngành công nghiệp chế biến tại TP.HCM 2015). Qua đó càng thấy vai trò quan trọng của sản phẩm gia cầm với nhu cầu tiêu dùng.

Kinh tế ngày càng phát triển, tầng lớp trung lưu sẽ tăng theo, do vậy nhu cầu thực phẩm chế biến cũng tăng theo. Song thực phẩm phải đạt chất lượng cao và hợp thị hiếu qua chế biến. Sản phẩm càng hấp dẫn, bao bì càng bắt mắt sẽ càng thu hút người tiêu dùng.

Từ những phân tích trên có thể khẳng định sản phẩm gia cầm thả vườn nhất là gia cầm qua chế biến luôn là sự lựa chọn của nhiều người tiêu dùng.

Do tập quán sử dụng sản phẩm gia cầm của người VN nên gà thả vườn là sản phẩm có ưu thế cạnh tranh mạnh mẽ với gà nhập ngoại.

 

Nâng năng suất, chất lượng

Để nâng cao sản lượng, chất lượng gà thả vườn cần có chính sách phát triển cụ thể và phù hợp gắn kết chặt chẽ gữa công nghiệp chế biến với SX nguyên liệu và thị trường chăn nuôi, trong đó có chăn nuôi gia cầm.

Hy vọng trong thời gian tới thông qua những chương trình kinh tế của Nhà nước thuộc các ban chỉ đạo kinh tế ở từng vùng được Bộ NN-PTNT cụ thể hóa trong những văn bản sẽ có những bước chuyển biến.

Cần biến ý tưởng thành hành động cụ thể thông qua tổ chức thực hiện nếu không ý tưởng cũng chỉ là khẩu hiệu hô hào.

Sau đây xin đề xuất những giải pháp cần được quan tâm triển khai trong quá trình tái cơ cấu ngành chăn nuôi, cụ thể là SX gia cầm theo hướng gắn kết chặt chẽ giữa công nghiệp chế biến với SX nguyên liệu và thị trường mà Bộ NN-PTNT đề ra.

Trước mắt nên tập trung xây dựng các HTX chăn nuôi gia cầm tự nguyện chuyên ngành không hạn chế về địa lý hành chính với quy mô tối thiểu 1.000.000 con/năm trên cơ sở gắn kết chặt chẽ giữa công nghiệp chế biến với SX nguyên liệu và thị trường ở các xã NTM.

Tuy nhiên phải có chính sách hỗ trợ về vốn vay và kỹ thuật chế biến của Nhà nước trong giai đoạn đầu. HTX từng bước tích lũy kinh nghiệm thị trường để phát triển thành Cty SX chế biến gia cầm ở từng vùng.

a. Nâng cao chất lượng giống qua chọn lọc với gà thả vườn là giống cần ứng dụng công nghệ gen để phát hiện được những gen có liên quan đến sinh trưởng và chất lượng thịt, qua đó chọn những cặp gen để nhân giống, nâng cao năng suất, chất lượng và độ đồng đều của sản phẩm gà thả vườn là một hướng đi quan trọng trong công tác giống hiện nay.

b. Sử dụng công nghệ gen trong việc xác định sớm các bệnh cần phòng và loại thải, chọn lọc nâng cao sức đề kháng nhằm nâng cao tỷ lệ sống ở các giống gà thả vườn.

c. Xác định chính xác nhu cầu dinh dưỡng của từng giống để có thể sử dụng nguồn thức ăn địa phương trong nuôi dưỡng giúp người dân tự phối hợp khẩu phần phù hợp theo nguồn thức ăn có ưu thế ở mỗi địa phương nhằm giảm giá thành sản phẩm.

d. Xây dựng nhiều HTX chuyên ngành SX gia cầm khép kín có quy mô trên 1.000.000 con/năm để nuôi, giết mổ, chế biến an toàn thực phẩm, bảo quản, tồn trữ đưa ra mạng lưới tiêu thụ sản phẩm gia cầm rộng rãi trong cả nước.

e. Từng HTX cần tổ chức liên kết giữa các hộ trong HTX chăn nuôi chuyên ngành (không giới hạn vùng địa lý và hành chính) để quy mô phát triển theo nhu cầu xã hội nhưng phải mang tính kế hoạch thị trường nhằm tránh rủi ro.

Liên kết với các DN để có đầu ra tốt cho sản phẩm gia cầm hoặc HTX tự liên kết chăn nuôi theo VietGAHP, giết mổ, chế biến và bảo quản theo quy trình an toàn thực phẩm, đưa sản phẩm tiêu thụ ở nhiều nơi khác nhau như chợ, nhà hàng, bệnh viện, trường học, siêu thị hay cửa hàng tiện ích ở khu đô thị, khu công nghiệp… và bước đầu có thể giới thiệu sản phẩm qua Hiệp hội Chăn nuôi gia cầm ra các nước có nhu cầu.

f. Tăng cường phổ biến kiến thức tổng hợp qua các khóa tập huấn định kỳ theo chương trình khuyến nông của Nhà nước hoặc các chương trình hợp tác quốc tế, đặc biệt là các lớp tập huấn về thú y, giết mổ, tổ chức thị trường. Cần chú ý đến các xã NTM, vùng sâu vùng xa và vùng khó khăn để phát triển giống vật nuôi ngắn ngày này.

g. Các HTX cần xây dựng thương hiệu có chỉ dẩn địa lý để phát triển sản phẩm trên thương trường và bảo vệ được sản phẩm của mình khi có tranh chấp thương mại.

Tác giả: PGS. TS. Lê Thanh Hải

Nguồn tin: Báo Nông Nghiệp Việt Nam

Chia sẻ bài viết này:

">

Bình luận

 
No comments yet
Bạn đã Đăng ký chưa? Đăng nhập
Guest
Thứ sáu, 23 /06/ 2017
Bạn có muốn Đăng ký thành viên, vui lòng điền đầy đủ các Thông tin sau.